Giám Đốc Tài Chính | Tạp Chí Giám Đốc Tài Chính

Switch to desktop
Giám Đốc Tài Chính | Đào tạo Giám Đốc Tài Chính | CFO

Chuẩn mực kế toán (accounting standards) là những quy định do tổ chức có trách nhiệm nghiên cứu và ban hành để làm cơ sở cho việc lập và giải thích các thông tin trình bày trên báo cáo tài chính. 

Chuẩn mực kế toán (accounting standards) là những quy định do tổ chức có trách nhiệm nghiên cứu và ban hành để làm cơ sở cho việc lập và giải thích các thông tin trình bày trên báo cáo tài chính. 

Chuẩn mực kế toán bao gồm những nguyên tắc chung (general principles) và những nguyên tắc cụ thể (specific principles). Nguyên tắc chung là những giả thiết (assumption), khái niệm (concept) và những hướng dẫn dùng để lập báo cáo tài chính. Nguyên tắc cụ thể là những quy định chi tiết dùng để ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh.

Nguyên tắc chung được hình thành do quá trình thực hành kế toán, còn nguyên tắc cụ thể được xây dựng từ các quy định của tổ chức quản lý.

Mỗi quốc gia thường sẽ có những nguyên tắc kế toán riêng, thường được biết đến với tên gọi Các nguyên tắc kế toán được chấp nhận rộng rãi (GAAP, Generally Accepted Accounting Principles). Dù vậy, các nguyên tắc kế toán nhìn chung đang ngày càng trở nên thống nhất giữa các nước.

Ở Việt Nam, Bộ Tài chính là cơ quan ban hành các chuẩn mực kế toán, được gọi là Chuẩn mực Kế toán Việt Nam (VAS, Vietnam Accounting Standards).

Bfinance

Chuẩn mực kế toán (accounting standards) là những quy định do tổ chức có trách nhiệm nghiên cứu và ban hành để làm cơ sở cho việc lập và giải thích các thông tin trình bày trên báo cáo tài chính. 

Chuẩn mực kế toán bao gồm những nguyên tắc chung (general principles) và những nguyên tắc cụ thể (specific principles). Nguyên tắc chung là những giả thiết (assumption), khái niệm (concept) và những hướng dẫn dùng để lập báo cáo tài chính. Nguyên tắc cụ thể là những quy định chi tiết dùng để ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh.

Nguyên tắc chung được hình thành do quá trình thực hành kế toán, còn nguyên tắc cụ thể được xây dựng từ các quy định của tổ chức quản lý.

Mỗi quốc gia thường sẽ có những nguyên tắc kế toán riêng, thường được biết đến với tên gọi Các nguyên tắc kế toán được chấp nhận rộng rãi (GAAP, Generally Accepted Accounting Principles). Dù vậy, các nguyên tắc kế toán nhìn chung đang ngày càng trở nên thống nhất giữa các nước.

Ở Việt Nam, Bộ Tài chính là cơ quan ban hành các chuẩn mực kế toán, được gọi là Chuẩn mực Kế toán Việt Nam (VAS, Vietnam Accounting Standards).

Bfinance

Chuẩn mực kế toán (accounting standards) là những quy định do tổ chức có trách nhiệm nghiên cứu và ban hành để làm cơ sở cho việc lập và giải thích các thông tin trình bày trên báo cáo tài chính. 

Chuẩn mực kế toán bao gồm những nguyên tắc chung (general principles) và những nguyên tắc cụ thể (specific principles). Nguyên tắc chung là những giả thiết (assumption), khái niệm (concept) và những hướng dẫn dùng để lập báo cáo tài chính. Nguyên tắc cụ thể là những quy định chi tiết dùng để ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh.

Nguyên tắc chung được hình thành do quá trình thực hành kế toán, còn nguyên tắc cụ thể được xây dựng từ các quy định của tổ chức quản lý.

Mỗi quốc gia thường sẽ có những nguyên tắc kế toán riêng, thường được biết đến với tên gọi Các nguyên tắc kế toán được chấp nhận rộng rãi (GAAP, Generally Accepted Accounting Principles). Dù vậy, các nguyên tắc kế toán nhìn chung đang ngày càng trở nên thống nhất giữa các nước.

Ở Việt Nam, Bộ Tài chính là cơ quan ban hành các chuẩn mực kế toán, được gọi là Chuẩn mực Kế toán Việt Nam (VAS, Vietnam Accounting Standards).

Bfinance

Chuẩn mực kế toán bao gồm những nguyên tắc chung (general principles) và những nguyên tắc cụ thể (specific principles). Nguyên tắc chung là những giả thiết (assumption), khái niệm (concept) và những hướng dẫn dùng để lập báo cáo tài chính. Nguyên tắc cụ thể là những quy định chi tiết dùng để ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh.

Nguyên tắc chung được hình thành do quá trình thực hành kế toán, còn nguyên tắc cụ thể được xây dựng từ các quy định của tổ chức quản lý.

Mỗi quốc gia thường sẽ có những nguyên tắc kế toán riêng, thường được biết đến với tên gọi Các nguyên tắc kế toán được chấp nhận rộng rãi (GAAP, Generally Accepted Accounting Principles). Dù vậy, các nguyên tắc kế toán nhìn chung đang ngày càng trở nên thống nhất giữa các nước.

Ở Việt Nam, Bộ Tài chính là cơ quan ban hành các chuẩn mực kế toán, được gọi là Chuẩn mực Kế toán Việt Nam (VAS, Vietnam Accounting Standards).

Bfinance

Read more...

Chi phí trả trước ngắn hạn (Short-term prepaid expense) là những khoản chi phí thực tế đã phát sinh, nhưng có liên quan tới hoạt động sản xuất, kinh doanh của nhiều kỳ hạch toán trong một năm tài chính hoặc một chu kỳ kinh doanh.
Chi phí trả trước này chưa thể tính hết vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ phát sinh mà được tính vào hai hay nhiều kỳ kế toán tiếp theo.

Bfinance

Read more...

Chi phí sản xuất (Operation cost) là số tiền mà một nhà sản xuất hay doanh nghiệp phải chi để mua các yếu tố đầu vào cần thiết cho quá trình sản xuất hàng hóa nhằm mục đích thu lợi nhuận.
Bất cứ doanh nghiệp nào cũng phải quan tâm đến chi phí sản xuất, vì việc giảm chi phí sản xuất đồng nghĩa với tăng lợi nhuận.

Chi phí sản xuất chung (General operation cost ) bao gồm: Lương nhân viên quản lý phân xưởng, bộ phận, đội sản xuất; khoản trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn được tính theo tỷ lệ quy định trên tiền lương phải trả của nhân viên phân xưởng, bộ phận, đội sản xuất.

Riêng đối với hoạt động kinh doanh xây lắp, khoản trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn còn tính trên cả lương của công nhân trực tiếp xây lắp, nhân viên sử dụng máy thi công và nhân viên quản lý đội; khấu hao TSCĐ dùng cho phân xưởng, bộ phận sản xuất; chi phí đi vay nếu được vốn hoá tính vào giá trị tài sản đang trong quá trình sản xuất dở dang; chi phí sửa chữa và bảo hành công trình xây lắp và những chi phí khác liên quan tới hoạt động của phân xưởng, bộ phận, tổ, đội sản xuất.

Chi phí sản xuất chung có thể phân loại thành: Chi phí sản xuất chung cố định và chi phí sản xuất chung biến đổi.

- Chi phí sản xuất chung cố định là những chi phí sản xuất gián tiếp, thường không thay đổi theo số lượng sản phẩm sản xuất, như chi phí khấu hao, chi phí bảo dưỡng máy móc thiết bị, nhà xưởng,... và chi phí quản lý hành chính ở các phân xưởng sản xuất.

- Chi phí sản xuất chung biến đổi là những chi phí sản xuất gián tiếp, thường thay đổi trực tiếp hoặc gần như trực tiếp theo số lượng sản phẩm sản xuất, như chi phí nguyên liệu, vật liệu gián tiếp, chi phí nhân công gián tiếp.

Bfinance

Read more...

Chi phí quản lý doanh nghiệp là chi phí biểu hiện bằng tiền của các hao phí lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp bỏ ra để thực hiện công tác quản lý bao gồm: quản lý kinh doanh, quản lý hành chính và quản lý khác.

Xét về mặt bản chất, đó là những chi phí phục vụ gián tiếp cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Nó đảm bảo cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành một cách bình thường. Đây là những chi phí tương đối ổn định.

Chi phí quản lý doanh nghiệp gồm các khoản sau:

- Chi phí nhân viên quản lý doanh nghiệp: gồm các khoản tiền lương và các khoản phụ cấp, ăn giữa ca phải trả cho lãnh đạo, cán bộ nhân viên các phòng ban và các khoản trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn.

- Chi phí vật liệu phục vụ cho quản lý doanh nghiệp.

- Chi phí dụng cụ, đồ dùng phục vụ cho bộ phận quản lý doanh nghiệp.

- Chi phí khấu hao TSCĐ phục vụ chung cho toàn doanh nghiệp như nhà văn phòng, vật kiến trúc, phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn, thiết bị văn phòng...

- Thuế, phí, lệ phí như thuế môn bài, thuế nhà đất và các khoản phí khác.

- Chi phí dự phòng như dự phòng phải thu khó đòi.

- Chi phí dịch vụ mua ngoài phục vụ cho bộ phận quản lý doanh nghiệp như: chi phí điện, nước, điện thoại, fax, chi phí sửa chữa TSCĐ, tiền thuê nhà làm văn phòng…

- Chi phí khác bằng tiền đã chi ra để phục vụ cho hoạt động quản lý doanh nghiệp như: chi phí tiếp khách cho bộ phận quản lý doanh nghiệp, chi phí tổ chức hội nghị, hội họp, công tác phí, chi phí kiểm toán…

Bfinance

Read more...

Chi phí phải trả (Payable cost) phản ánh các khoản được ghi nhận vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ nhưng thực tế chưa chi trả trong kỳ kế toán. Chi phí phải trả chủ yếu bao gồm các loại chi phí sau:
- Trích trước chi phí tiền lương phải trả cho công nhân sản xuất trong thời gian nghỉ phép.

- Chi phí sữa chữa lớn của tài sản cố định.

- Chi phí trong thời gian doanh nghiệp ngừng sản xuất theo mùa vụ.

- Trích trước chi phí tiền lãi vay phải trả trong trường hợp vay trả lãi sau, lãi trái phiếu trả sau ( khi trái phiếu đáo hạn ).

Khi sử dụng tài khoản này để hạch toán các khoản chi phí phải trả vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ thì phải theo nguyên tắc phù hợp giữa doanh thu và chi phí phát sinh trong kỳ kế toán.

Bfinance

Read more...

Chi phí nhân công trực tiếp ( Direct labor cost) là những khoản tiền phải trả, phải thanh toán cho công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm, trực tiếp thực hiện các lao vụ, dịch vụ bao gồm tiền lương chính, lương phụ, các khoản phụ cấp có tính chất lương (phụ cấp khu vực, đắt đỏ, độc hại, phụ cấp làm đêm, làm thêm giờ...).
Ngoài ra, còn bao gồm các khoản đóng góp cho các quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn do chủ sử dụng lao động chịu và được tính vào chi phí kinh doanh theo một tỷ lệ nhất định với số tiền phát sinh của công nhân trực tiếp sản xuất.

Không được tính vào chi phí nhân công trực tiếp các khoản tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp của nhân viên phân xưởng, nhân viên bán hàng và nhân viên quản lý doanh nghiệp.

Bfinance

Read more...

Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp ( Direct material cost) là tổng các khoản tiền mà doanh nghiệp phải trả để có được các nguyên liệu sau này sẽ trở thành một phần của những sản phẩm doanh nghiệp sản xuất ra, hoặc liên quan trực tiếp tới các dịch vụ doanh nghiệp cung cấp.
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp cũng được định nghĩa là giá trị thực tế của nguyên vật liệu sử dụng để sản xuất ra thành phẩm hoặc cung cấp dịch vụ.

Giá trị thực tế của nguyên vật liệu được tính theo giá gốc hoặc giá trị thuần có thể thực hiện được.

Giá gốc (Original cost): Giá gốc là toàn bộ chi phí liên quan đến việc mua một tài sản. Giá gốc bao gồm các khoản như: chi phí mua, chi phí chế biến và các chi phí liên quan trực tiếp khác phát sinh để có được hàng tồn kho/tài sản ở địa điểm và trạng thái hiện tại.

Giá trị thuần có thể thực hiện được (Net realizable value): Giá trị thuần có thể thực hiện được là giá bán ước tính của hàng tồn kho trong kỳ sản xuất, kinh doanh bình thường trừ (-) chi phí ước tính để hoàn thành sản phẩm và chi phí ước tính cần thiết cho việc tiêu thụ chúng.

Bfinance

Read more...

Trong kế toán, Chi phí khác là chi phí phát sinh ngoài dự kiến trong kinh doanh, không được xếp vào chi phí sản xuất, chi phí bán hàng, hoặc chi phí quản lý và chi phí chung.
Đó là những chi phí phát sinh do các sự kiện hay các nghiệp vụ riêng biệt, bất thường với các hoạt động kế toán trong doanh nghiệp, bao gồm các hoạt động như:

- Chi phí thanh lý, nhượng bán TSCĐ và giá trị còn lại của TSCĐ thanh lý và nhượng bán TSCĐ (nếu có);

- Chênh lệch lỗ do đánh giá lại vật tư, hàng hoá, TSCĐ đưa đi góp vốn liên doanh, đầu tư vào công ty liên kết, đầu tư dài hạn khác;

- Tiền phạt do vi phạm hợp đồng kinh tế;

- Bị phạt thuế, truy nộp thuế;

- Các khoản chi phí khác.

Chênh lệch giữa Doanh thu khác và Chi phí khác hình thành nên Lợi nhuận (từ hoạt động) khác.

Bfinance

Read more...

Chi phí có thể được hiểu là giá trị của một nguồn lực bị tiêu dùng trong sản xuất kinh doanh của tổ chức để đạt được mục đích nào đó.

Bản chất của chi phí là phải mất đi để đổi lấy lại được kết quả. Kết quả có thể dưới dạng vật chất như sản phẩm, tiền, nhà xưởng, … hoặc không có dạng vật chất như kiến thức, dịch vụ được phục vụ…

Khi phân loại chi phí theo dạng thức của chi phí, kế toán quản trị chia tổng chi phí thành ba loại: (1) Biến phí (Chi phí khả biến), (2) Định phí (Chi phí cố định/bất biến) và (3) Chi phí hỗn hợp.

Việc nhận định và thấu hiểu từng loại chi phí và hành vi của chúng trong sản xuất kinh doanh là chìa khóa của việc đưa ra các quyết định đúng đắn trong quá trình tổ chức, điều hành và quản lý hoạt động kinh doanh của các nhà quản lý.

Bfinance

Read more...

Trong kế toán, tài khoản Chênh lệch đánh giá lại tài sản (Difference upon asset revaluation) được dùng để phản ánh số chênh lệch do đánh giá lại tài sản hiện có và tình hình xử lý số chênh lệch đó của doanh nghiệp.
Chênh lệch đánh giá lại tài sản là chênh lệch giữa giá trị ghi sổ của tài sản với giá trị đánh giá lại tài sản. Việc đánh giá lại thường được thực hiện khi có quyết định của Nhà nước hoặc khi đưa tài sản đi góp vốn liên doanh, thành lập công ty cổ phần…

Tài sản được đánh giá lại chủ yếu là tài sản cố định, bất động sản, vật tư, công cụ, dụng cụ, thành phẩm, hàng hóa, sản phẩm dở dang…

Bfinance

Read more...